Giao dịch QR tăng 128,2%, tài chính số đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới
Tài chính số (TCS) Việt Nam đang phát triển mạnh, với số lượng giao dịch QR tăng 128,2% trong giai đoạn 2021-2025, kéo theo yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế giải quyết tranh chấp.
Sáng 12/8, tại TP HCM, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC) và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tổ chức Hội nghị “Chuyển đổi số trong giao dịch tài chính: Thuận lợi dòng vốn hay phức tạp tranh chấp”, mở đầu Chuỗi sự kiện Quản trị Pháp lý Doanh nghiệp TP HCM 2026 (LMS 2026).
Hội nghị quy tụ hơn 200 đại biểu là đại diện doanh nghiệp (DN), ngân hàng, tổ chức tín dụng, luật sư và chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, pháp lý.
Phát biểu khai mạc, bà Cao Thị Phi Vân - Phó Giám đốc ITPC - nhận định, chuyển đổi số đang tạo thêm động lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính của DN. Năm 2026, TP HCM đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp trên 30% GRDP, cùng với việc đẩy mạnh số hóa các ngành kinh tế trọng điểm.
Theo bà Vân, bên cạnh cơ hội tiếp cận nguồn lực tài chính, DN cần được bảo đảm môi trường giao dịch an toàn, minh bạch. Việc tăng cường trao đổi giữa chuyên gia và cộng đồng DN sẽ góp phần nhận diện vấn đề phát sinh, củng cố niềm tin và hỗ trợ phát triển giao dịch tài chính trên môi trường số.
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa - Phó Chủ tịch VIAC- cho biết tranh chấp trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng chiếm 10% tổng số vụ VIAC tiếp nhận năm 2025. Gần một nửa số vụ tranh chấp tại VIAC trong năm có ít nhất một bên FDI và/hoặc yếu tố nước ngoài.
Theo ông, những chuyển động của thị trường tài chính trong bối cảnh số đòi hỏi pháp luật phải theo kịp các giao dịch mới, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn và bảo đảm quyền, lợi ích của các bên khi tranh chấp phát sinh. Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp là yêu cầu quan trọng để củng cố niềm tin của DN và tạo nền tảng pháp lý ổn định cho thị trường.
Giao dịch tài chính số đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới
Tại hội nghị, LS. Phạm Thị Thanh Huyền - Trưởng Chương trình Phát triển Cơ sở Hạ tầng Tài chính Việt Nam và Cam-pu-chia, Nhóm Tư vấn các Định chế Tài chính, châu Á Thái Bình Dương, IFC/WBG, Trọng tài viên (TTV) VIAC, Hòa giải viên (HGV) VMC - trình bày tham luận dẫn đề “Giao dịch tài chính số (TCS) tại Việt Nam: Thực trạng phát triển và những thách thức với khung pháp lý hiện hành”.
Theo LS. Huyền, TCS Việt Nam đang phát triển mạnh. Tỷ lệ người có tài khoản ngân hàng đạt 87%, trong khi số lượng giao dịch QR tăng 128,2% giai đoạn 2021-2025. Sự chuyển dịch này góp phần giảm sử dụng giấy tờ, tiền mặt và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh cũng kéo theo rủi ro về rò rỉ dữ liệu, gian lận trực tuyến, tấn công mạng và các mô hình kinh doanh chưa được quy định rõ.
Theo chuyên gia, khung pháp lý hiện hành còn phân tán ở nhiều văn bản, cơ chế phối hợp liên ngành chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.
Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình quản lý theo rủi ro, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), thiết lập khung pháp lý cho ngân hàng mở (Open Banking), đồng thời tăng cường năng lực giám sát công nghệ. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định về dữ liệu, định danh số, an ninh mạng, bảo vệ người tiêu dùng; tăng cường chia sẻ dữ liệu, giám sát FinTech và cơ chế giải quyết tranh chấp.
Ở góc độ giao dịch, LS. Hoàng Thị Ngọc Diệp - Luật sư thành viên Dilinh Legal - nhận định thanh toán số là một trong những điểm nổi bật của TCS Việt Nam, trong khi tín dụng số đang mở rộng thông qua các nền tảng cho vay ngang hàng.
Để tiếp cận các sản phẩm tài chính dựa trên dữ liệu, DN cần số hóa hoạt động, xây dựng hệ thống dữ liệu đầy đủ, minh bạch và có khả năng kiểm chứng. Định danh điện tử, hợp đồng điện tử và tự động hóa quy trình cho vay cũng đang tạo ra những phương thức tiếp cận vốn mới.
Với cho vay trực tuyến, tài trợ khoản phải thu và tài trợ chuỗi cung ứng, chuyên gia lưu ý việc kiểm soát tính pháp lý của giao dịch, chất lượng dữ liệu và an toàn công nghệ. Việc xác thực, lưu trữ thông tin giao dịch và xây dựng cơ chế xử lý tranh chấp ngay từ đầu sẽ góp phần bảo đảm giá trị chứng minh khi rủi ro phát sinh.
Đối với tài sản số (TSS), tài sản mã hóa và giao dịch trên nền tảng blockchain, ông Phan Đức Trung - Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam - cho rằng dữ liệu đáng tin cậy không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn ở nguồn dữ liệu, tính chính xác, khả năng xác thực và truy vết.
Blockchain có thể hỗ trợ lưu trữ, truy vết giao dịch nhưng không tự bảo đảm dữ liệu đầu vào chính xác. Do đó, DN cung cấp dịch vụ blockchain cần chú trọng quản trị dữ liệu, bảo vệ người dùng và thiết kế cơ chế tuân thủ phù hợp.
Theo ông Trung, blockchain và token hóa có thể mở rộng khả năng đưa tài sản, dòng tiền vào các kênh huy động vốn. Tuy nhiên, khi tài sản mã hóa tham gia giao dịch tín dụng, cần làm rõ quyền đối với tài sản, nghĩa vụ trả nợ, lưu ký và định giá. Dữ liệu truy vết cũng phải đáp ứng yêu cầu về năng lực kỹ thuật, chuyên môn và tư cách pháp lý để có thể sử dụng làm chứng cứ.
Phân định trách nhiệm, bảo đảm khả năng giải quyết tranh chấp
Bàn về giải quyết tranh chấp trong giao dịch TCS, LS. Hoàng Nguyễn Hạ Quyên - Luật sư Điều hành LNT & Partners, TTV VIAC, Phó Giám đốc VMC - nhận định sự phát triển của giao dịch số đang kéo theo những dạng tranh chấp mới khi công nghệ tham gia sâu hơn vào quá trình giao dịch và quản lý tài sản. Từ các vụ việc liên quan đến TSS, những vấn đề về quyền đối với tài sản, chuyển giao, trách nhiệm giữa các bên và giá trị chứng minh của dữ liệu giao dịch ngày càng được đặt ra rõ hơn.
Với tín dụng, tài trợ vốn qua nền tảng số, TS.LS Phan Hoài Nam - CEO Công ty Tư vấn và Công ty Luật W&A, TTV VIAC, Giảng viên Học viện Tư pháp và ACCA - cho biết các vụ việc tại VIAC hiện vẫn chủ yếu xoay quanh nghĩa vụ trong hợp đồng vay như thanh toán nợ gốc, lãi, phí, phạt trả chậm và bồi thường.
Tuy nhiên, khi hình thức tài trợ vốn đa dạng hơn, quy mô giao dịch tăng và nền tảng tham gia vào nhiều khâu, tranh chấp có thể phức tạp hơn, nhất là khi nhà đầu tư phụ thuộc vào dữ liệu và kết quả thẩm định của nền tảng.
Theo chuyên gia, cùng với sự thay đổi của cấu trúc giao dịch và phương thức quản lý khoản vay, những vấn đề mới có thể phát sinh liên quan đến trách nhiệm của nền tảng, giá trị và khả năng chứng minh của dữ liệu. Do đó, pháp luật không chỉ cần tạo hành lang cho mô hình mới mà còn phải bảo đảm minh bạch, kiểm soát rủi ro và phân định trách nhiệm giữa các bên.
Đối với tranh chấp trong giao dịch tài sản mã hóa, LS. Phùng Anh Tuấn - Giám đốc, Luật sư Điều hành Công ty Luật TNHH MTV VCI Legal, Phó Chủ tịch thường trực VAFI, TTV VIAC, HGV VMC - cho rằng việc pháp luật ghi nhận tài sản mã hóa là tài sản tạo cơ sở cho các quyền dân sự, nhưng chưa đủ để giải quyết đầy đủ vấn đề về quyền sở hữu, giao dịch, lưu ký và chuyển giao.
Đáng chú ý, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP đã ghi nhận thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án là các phương thức giải quyết tranh chấp trên thị trường tài sản mã hóa. Đối với trọng tài, thỏa thuận trọng tài vẫn là điều kiện cốt lõi để xác lập thẩm quyền.
Với giao dịch có yếu tố nước ngoài, LS. Tuấn lưu ý các bên cần thống nhất ngay trong hợp đồng về luật áp dụng, phương thức giải quyết tranh chấp, đồng thời dự liệu việc trao đổi, lưu giữ dữ liệu và trách nhiệm phối hợp.
Theo ông, thách thức của tranh chấp TSS không chỉ nằm ở xác định quyền mà còn ở khả năng chứng minh, bảo toàn và thi hành quyền đó. Thay vì xây dựng một cơ chế riêng, có thể tiếp tục hoàn thiện các quy định hiện hành, trong đó chú trọng biện pháp khẩn cấp, thu thập chứng cứ từ bên thứ ba và thi hành đối với tài sản mã hóa.
Theo https://baophapluat.vn/giao-dich-qr-tang-128-2-tai-chinh-so-dat-ra-nhieu-van-de-phap-ly-moi.html















