Mô hình nào cho Quỹ sử dụng năng lượng hiệu quả?
Đầu tư cho sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (NLTK&HQ) thường sẽ gặp nhiều khó khăn do nguồn chi phí lớn. Đề xuất thành lập quỹ sử dụng cho vấn đề này đã được đặt ra từ khá lâu và mô hình nào phù hợp với loại quỹ này đang được các chuyên gia đề xuất.
Năm 2026, khi Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng NLTK&HQ chính thức có hiệu lực, việc thành lập Quỹ sử dụng NLTK&HQ đã được quy định.
Ông Phạm Phan Dũng - chuyên gia kinh tế năng lượng cho biết, qua rà soát kinh nghiệm quốc tế tại 10 quốc gia thì có 16 quỹ và phân thành 5 nhóm mô hình kinh doanh gồm mô hình quỹ tài chính trực tiếp; mô hình Quỹ tài trợ không hoàn lại; mô hình trung gian tài chính và chia sẻ rủi ro; mô hình chính sách dựa trên nghĩa vụ thị trường; mô hình Quỹ kết hợp. Trong đó, mô hình thành công nhất được thiết kế theo hướng kết hợp nhiều công cụ tài chính, đồng thời kết hợp các cơ chế hợp tác kỹ thuật và kiểm soát chất lượng dự án.
Tại Việt Nam có 4 quỹ gồm: Quỹ tài chính công trực tiếp, Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ đầu tư xanh, Quỹ đầu tư phát triển địa phương.
Về định hướng thành lập Quỹ thúc đẩy NLTK&HQ, theo ông Dũng, cần xác định Quỹ là một công cụ tài chính chính sách có vai trò xúc tác thị trường, không nhằm thay thế các kênh tài chính thương mại mà hướng tới chia sẻ rủi ro. Bên cạnh đó, Quỹ cần được thiết kế theo mô hình tài chính đa công cụ, kết hợp linh hoạt các hình thức hỗ trợ như cho vay ưu đãi; việc thành lập và vận hành Quỹ phải gắn kết với hệ thống tài chính và ngân hàng hiện có.
Đáng chú ý, ông Dũng cho rằng, Quỹ cần được lồng ghép trong tổng thể khuôn khổ chính sách về chuyển dịch năng lượng, tăng trưởng xanh và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, như mục tiêu phát thải ròng bằng 0, Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) và phát triển thị trường các-bon; mô hình quản trị của Quỹ phải bảo đảm tính độc lập tương đối, tính chuyên nghiệp, minh bạch và có cơ chế giám sát hiệu quả, đồng thời phân định rõ chức năng quản lý năng lượng với chức năng quản lý, điều hành hoạt động của Quỹ.
Ông Trần Viết Nguyên - Phó Trưởng Ban Kinh doanh, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho rằng, cần phải sớm thành lập Quỹ tài chính thúc đẩy NLTK&HQ; chuẩn hóa quy trình đo lường và xác minh; thẩm định/đánh giá độc lập, công bố danh sách ESCO (công ty dịch vụ năng lượng); hướng dẫn hạch toán đối với đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; hoạt động của hiệp hội ESCO Việt Nam.
Ông Nguyên cũng cho biết, EVN đã thí điểm triển khai các dự án đầu tư tiết kiệm năng lượng theo mô hình ESCO. Theo đó, mô hình hoạt động ESCO của EVN là hợp đồng thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng. Các hình thức hợp đồng ESCO gồm: hợp đồng bảo đảm tiết kiệm, hợp đồng chia sẻ tiết kiệm. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì vẫn có những khó khăn khi triển khai ESCO như thiếu hành lang pháp lý cho ESCO, thiếu các quy định cụ thể; thiếu truyền thông; hạn chế tài chính; rủi ro trong thu hồi vốn; thị trường ESCO (giải pháp, đào tạo, đội ngũ chuyên gia, hỗ trợ kỹ thuật…).
Đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (ĐCK) (Bộ Công Thương) khuyến nghị, Quỹ thúc đẩy sử dụng NLTK&HQ nên là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trực thuộc Bộ Công Thương; có tư cách pháp nhân, vốn điều lệ, con dấu và bảng cân đối kế toán riêng; hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và phải bảo toàn vốn điều lệ; được miễn thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước (NSNN) theo quy định của pháp luật.
“Quỹ sẽ huy động, tiếp nhận, quản lý nguồn vốn từ NSNN, tài trợ, đóng góp, ủy thác trong và ngoài nước, đầu tư, cho vay ưu đãi cho các dự án sản xuất, đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng; hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án đã vay từ tổ chức tín dụng; tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động tiết kiệm năng lượng; hỗ trợ kỹ thuật qua các ESCO, đào tạo nâng cao năng lực; hỗ trợ chuyển đổi thị trường và quản lý hiệu suất phương tiện, thiết bị” - đại diện ĐCK nói.
Tuy nhiên, toàn bộ các hoạt động nêu trên nên được ủy thác qua một số ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nhằm tiết kiệm biên chế hành chính, sự nghiệp của Nhà nước; giảm chi phí vận hành, quản lý bộ máy của Quỹ; tận dụng bộ máy chuyên nghiệp, mạng lưới sẵn có của NHTMCP; thúc đẩy hợp tác công - tư trong lĩnh vực năng lượng; tăng khả năng thu hút nguồn ODA quốc tế (WB, EU...).
Theo https://baophapluat.vn/mo-hinh-nao-cho-quy-su-dung-nang-luong-hieu-qua.html

















