Việt Nam - EU: Mở rộng dư địa tăng trưởng từ nông nghiệp xanh và kinh tế biển
Ngày 14/10, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng tiếp và làm việc với Đại sứ Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam Julien Guerrier. Hai bên trao đổi các giải pháp thúc đẩy thương mại nông, lâm, thủy sản, chuyển đổi xanh và hợp tác phát triển kinh tế biển bền vững.
Cạnh tranh bằng chất lượng và khả năng tuân thủ
Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, EU là đối tác quan trọng của Việt Nam về kinh tế, thương mại, phát triển bền vững và ứng phó những thách thức toàn cầu. Sau 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai bên đã đạt nhiều kết quả tích cực. Đáng chú ý, ngày 29/1/2026, Việt Nam và EU công bố nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện; Việt Nam trở thành đối tác chiến lược toàn diện đầu tiên của EU trong ASEAN. Đây là nền tảng chính trị thuận lợi để mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có thương mại, công nghệ và tăng trưởng xanh.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng đề xuất ưu tiên thúc đẩy thương mại nông, lâm, thủy sản và mở cửa thị trường; tăng trao đổi kỹ thuật, minh bạch thông tin, xử lý kịp thời hồ sơ tồn đọng trên cơ sở khoa học và các cam kết trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).
Đại sứ Julien Guerrier đề cập những vướng mắc trong xử lý hồ sơ mở cửa thị trường, kiểm dịch và an toàn thực phẩm; đề nghị tăng cường trao đổi, đơn giản hóa quy trình. Đại sứ cũng chia sẻ quan điểm về dự thảo Luật An toàn thực phẩm và hợp tác thủy sản. Những nội dung này có ý nghĩa thiết thực đối với doanh nghiệp xuất khẩu, bởi bên cạnh ưu đãi thuế quan, việc đáp ứng các yêu cầu về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tiếp cận thị trường EU.
Một yêu cầu ngày càng rõ nét là thích ứng với quy định chống mất rừng và suy thoái rừng của EU (EUDR). Bộ trưởng đề nghị EU hỗ trợ nâng cao năng lực, hoàn thiện dữ liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc và hướng dẫn kỹ thuật, nhất là với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất còn hạn chế nguồn lực. Việc hoàn thiện dữ liệu vùng nguyên liệu và hệ thống truy xuất nguồn gốc được kỳ vọng hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý sản xuất.
Trong lĩnh vực thủy sản, Việt Nam tiếp tục tập trung thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Sau đợt thanh tra lần thứ năm, trong tổng số 38 khuyến nghị, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ 31 nội dung; 5 nội dung đang triển khai và 2 nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, tham vấn, làm rõ với EC. Tiến độ này là cơ sở để hai bên tiếp tục đối thoại kỹ thuật, đồng thời cho thấy yêu cầu duy trì quản lý nghề cá có trách nhiệm trong dài hạn.
Hình thành động lực tăng trưởng mới
Đại sứ Julien Guerrier nêu các chủ đề trong trao đổi với phía Việt Nam, phản ánh xu hướng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng gắn chặt với hoạt động sản xuất, tiêu dùng và thương mại quốc tế.
Theo Đại sứ Julien Guerrier, với Việt Nam, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không đơn thuần là giảm tác động môi trường mà còn là cơ hội nâng năng suất tài nguyên, tiết kiệm nguyên liệu, hạn chế tổn thất và gia tăng giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, chi phí đầu tư công nghệ, đo lường phát thải, quản lý dữ liệu và chứng nhận có thể tạo sức ép cho doanh nghiệp nhỏ và các hộ sản xuất.
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng mong muốn nâng hiệu quả các chương trình hỗ trợ hiện có, thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường, khí hậu và kinh tế tuần hoàn. Đáng chú ý, Bộ đề xuất xây dựng Chương trình hợp tác Việt Nam - EU về Kinh tế biển xanh và Đại dương bền vững, tập trung vào nuôi trồng thủy sản bền vững, chuyển đổi xanh, quản trị đại dương, bảo tồn biển và giảm ô nhiễm nhựa.
Đề xuất này mở ra khả năng kết nối các mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái với phát triển sinh kế và ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Việc ứng dụng công nghệ sạch, quản lý tài nguyên biển dựa trên dữ liệu và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững có thể góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời tạo cơ hội cho các ngành chế biến, dịch vụ và xuất khẩu. Để phát huy hiệu quả, chương trình cần xác định rõ cơ chế phối hợp, nguồn lực triển khai và các lĩnh vực ưu tiên.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng coi trọng nguồn gốc, phát thải và trách nhiệm môi trường, lợi thế cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ nằm ở sản lượng hay giá bán. Khả năng chứng minh tính bền vững, minh bạch dữ liệu và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế có thể trở thành yếu tố quyết định khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Hợp tác với EU vì thế cần được nhìn nhận đồng thời như một kênh mở rộng thị trường và một động lực nâng cấp mô hình sản xuất.
Kết thúc buổi làm việc, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng và Đại sứ Julien Guerrier thống nhất tiếp tục phối hợp với Phái đoàn EU và các cơ quan liên quan nhằm cụ thể hóa những định hướng hợp tác. Trọng tâm thời gian tới là chuyển các trao đổi chính sách, kỹ thuật thành kết quả có thể đo đếm, qua đó đóng góp vào tăng trưởng xanh, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của cả hai bên.
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt khoảng 56,3 tỷ USD, cho thấy quy mô và vai trò của ngành trong nền kinh tế. Song song với mở rộng thị trường, việc thực hiện 31 trong tổng số 38 khuyến nghị IUU sau đợt thanh tra lần thứ năm của EC cho thấy tiến trình hoàn thiện quản lý nghề cá vẫn đang được thúc đẩy. Với EU, hai bên hướng tới hợp tác sâu hơn về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, công nghệ và kinh tế biển xanh. Các chỉ dấu này đặt ra yêu cầu chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, tính minh bạch và giá trị gia tăng.
Theo https://baophapluat.vn/viet-nam-eu-mo-rong-du-dia-tang-truong-tu-nong-nghiep-xanh-va-kinh-te-bien.html















