Navbar with Dropdown

Tiềm năng tín chỉ carbon rừng - 'Lá chắn sinh thái' trở thành động lực tăng trưởng xanh

(PLVN) - Trong tiến trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tín chỉ carbon rừng đang trở thành “đơn vị giá trị” mới của kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời mở ra nguồn tài chính bền vững cho sinh kế rừng và cộng đồng dân tộc thiểu số.

Phát huy “lá chắn sinh thái” trở thành động lực tăng trưởng mới

Trong nhiều năm, rừng chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và chức năng phòng hộ môi trường. Rừng giữ nước, chống xói mòn, hạn chế lũ quét, giảm tác động của thiên tai, đồng thời hấp thụ và lưu trữ carbon, qua đó góp phần quan trọng vào ứng phó biến đổi khí hậu. Nhưng trong bối cảnh chuyển đổi xanh và áp lực thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, giá trị của rừng đang được định vị lại. Không chỉ là “lá chắn sinh thái”, rừng còn trở thành một cấu phần của kinh tế carbon.

Trong đó, tín chỉ carbon từ rừng vốn được xem là tài sản vô hình đang dần được xác lập giá trị một cách rõ ràng - một “đơn vị giá trị” mới của nền kinh tế xanh. Khác với cách tiếp cận truyền thống, giá trị của rừng không chỉ được xác định bằng diện tích hay trữ lượng gỗ, mà bằng khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon và đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải. Khi lượng carbon được hấp thụ hoặc giảm phát thải từ rừng được đo lường theo các tiêu chuẩn nhất định, giá trị này có thể được ghi nhận dưới dạng tín chỉ carbon và trở thành đối tượng của các giao dịch tài chính.

Một tín hiệu đáng chú ý gần đây là vào cuối tháng 3 vừa qua, Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) đã phê duyệt đề xuất tài trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Chính phủ Việt Nam đối với dự án chi trả dựa trên kết quả thực hiện REDD+ ghi nhận kết quả giảm phát thải của Việt Nam trong năm 2014. Theo đó, Việt Nam sẽ được nhận 71,96 triệu USD thông qua cơ chế chi trả dựa trên kết quả, tương ứng với lượng phát thải khí nhà kính đã được xác minh độc lập. Đây là khoản tài chính có được nhờ việc giảm nạn phá rừng, suy thoái rừng, đồng thời gia tăng trữ lượng carbon thông qua trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Ý nghĩa của khoản chi trả này không chỉ nằm ở con số, mà cho thấy giá trị hấp thụ carbon từ rừng của Việt Nam đã được quốc tế công nhận thông qua một cơ chế có tính chuẩn mực, dựa trên đo đếm và thẩm định độc lập. Kết quả này cũng cho thấy xu hướng quản trị tài nguyên rừng đang chuyển từ chỗ đơn thuần bảo tồn sang bảo tồn gắn với cơ chế tạo lợi ích hợp pháp, minh bạch và có thể kiểm chứng.

Hoàn thiện hành lang pháp lý là điều kiện quan trọng để tín chỉ carbon rừng trở thành động lực mới cho tăng trưởng xanh. (Nguồn: Cục ĐMST, CĐX & Khuyến công, Bộ Công Thương)
Hoàn thiện hành lang pháp lý là điều kiện quan trọng để tín chỉ carbon rừng trở thành động lực mới cho tăng trưởng xanh. (Nguồn: Cục ĐMST, CĐX & Khuyến công, Bộ Công Thương)

Theo kế hoạch, nguồn tài chính từ dự án sẽ được sử dụng để tái đầu tư vào việc tăng cường các chính sách, thể chế và biện pháp thực thi liên quan đến rừng. Các hoạt động của dự án hướng tới từng bước xử lý nguyên nhân dẫn đến mất rừng, suy thoái rừng, thúc đẩy quản lý rừng bền vững và cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương sống phụ thuộc vào rừng. Dự án dự kiến triển khai trong 6 năm, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương thuộc khu vực Tây Bắc và Đông Bắc như: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ và Tuyên Quang.

Đáng chú ý, tín chỉ carbon rừng chỉ có thể trở thành động lực phát triển khi nguồn lợi từ carbon được quay trở lại phục vụ chính rừng, tăng cường năng lực quản lý rừng và tạo động lực cho cộng đồng tham gia bảo vệ rừng. Nếu chỉ dừng ở việc bán tín chỉ như một nguồn thu ngắn hạn, mà không gắn với hoàn thiện thể chế, củng cố hệ thống giám sát và cải thiện đời sống người dân, thì giá trị của carbon rừng sẽ khó bền vững.

Hoàn thiện hành lang pháp lý trước những thách thức thời đại

Phát triển thị trường carbon là một trong những giải pháp then chốt để thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Trong cấu trúc đó, tín chỉ carbon từ rừng sẽ giữ vai trò quan trọng khi Việt Nam triển khai cơ chế giao dịch giữa bên phát thải và các chủ thể có khả năng hấp thụ carbon. Điều này cho thấy, trong tương lai gần, carbon rừng không chỉ gắn với các cơ chế quốc tế như REDD+, mà còn có thể trở thành một yếu tố quan trọng của thị trường carbon trong nước. Vấn đề đặt ra là, để tín chỉ carbon trở thành công cụ thực chất, điều kiện tiên quyết chính là khung pháp lý đủ rõ, đủ ổn định và đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ lợi ích phát sinh.

Thực tế quốc tế cho thấy, các công cụ định giá carbon đã được xây dựng hơn hai thập kỷ, với hai hướng tiếp cận chủ yếu là thuế carbon và thị trường carbon. Theo thống kê, đến giữa năm 2025, thế giới đã có 38 hệ thống trao đổi phát thải chính thức vận hành, bao phủ khoảng 23% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Ở nhiều thị trường phát triển, giá carbon ở mức cao đã trở thành một tín hiệu mạnh để điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp và xã hội. Khi giá carbon được xác lập, chủ thể phát thải phải cân nhắc giữa việc đầu tư để giảm phát thải hay tiếp tục phát thải và chấp nhận chi phí cao hơn. Đó là logic vận hành của thị trường tín chỉ carbon trong ứng phó biến đổi khí hậu, đồng thời cũng là cơ sở để hình thành động lực kinh tế cho tăng trưởng xanh.

Đối với Việt Nam, lộ trình xây dựng thị trường carbon đã được đặt ra khá rõ. Việt Nam đã hoàn thành các bước chuẩn bị cần thiết để thí điểm vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon vào năm 2025 và hướng tới vận hành chính thức từ năm 2028. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để xác định vai trò của các bên trong thị trường, bao gồm bên phát thải, bên hấp thụ, bên trung gian và cơ chế chia sẻ lợi ích. Đây là bước đi quan trọng, bởi thị trường carbon chỉ có thể vận hành ổn định khi quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các chủ thể được xác lập rõ ràng bằng quy định pháp luật.

Tuy vậy, cùng với lộ trình hình thành thị trường, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở thiết kế cơ chế giao dịch, mà còn ở việc bảo đảm chất lượng pháp lý và kỹ thuật của chính tín chỉ carbon. Trong đó, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) được xem là điều kiện cốt lõi để tín chỉ carbon được công nhận, đủ điều kiện giao dịch và hạn chế rủi ro tranh chấp về chất lượng. Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, Việt Nam có nhiều lợi thế tự nhiên để trở thành một trong những quốc gia đi đầu ở Đông Nam Á trong phát triển tín chỉ carbon rừng. Nhưng điều quan trọng là phải xây dựng được hệ thống MRV đủ tin cậy, đồng thời ban hành rõ ràng cơ chế chia sẻ lợi ích từ tín chỉ carbon đến cộng đồng địa phương. Nếu không giải quyết được hai vấn đề này, rất khó để thị trường carbon rừng phát triển lành mạnh và thu hút nguồn tài chính quốc tế.

Không chỉ vậy, hành lang pháp lý liên quan đến cơ chế định giá tín chỉ carbon cũng cần sớm được hoàn thiện. Theo Báo cáo đóng góp do quốc gia tự quyết định cập nhật năm 2022, Việt Nam cam kết giảm phát thải 15,8% bằng nguồn lực trong nước và có thể nâng lên 43,5% nếu có hỗ trợ quốc tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chi phí cận biên để giảm 1 tấn CO₂ ở một số lĩnh vực hiện ở mức khá cao. Nếu tín chỉ carbon được bán với giá thấp mà không tính đến nghĩa vụ thực hiện cam kết giảm phát thải trong nước, Việt Nam có thể phải đối mặt với chi phí bù đắp rất lớn trong tương lai. Vì vậy, việc thiết kế chính sách giá, cơ chế giao dịch và nguyên tắc chuyển nhượng tín chỉ carbon phải gắn chặt với lợi ích quốc gia, tránh tư duy “bán nhanh, bán rẻ” trong ngắn hạn nhưng lại làm gia tăng gánh nặng thực hiện nghĩa vụ khí hậu về lâu dài.

Trong bối cảnh tăng trưởng xanh, tăng trưởng hai con số đang trở thành yêu cầu phát triển tất yếu của đất nước, tín chỉ carbon rừng mở ra một hướng đi mới giàu tiềm năng, nhưng cũng đòi hỏi sự thận trọng về thể chế. Đây không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là câu chuyện của pháp luật, của quản trị công bằng và của năng lực biến “lá chắn sinh thái” thành nguồn lực phát triển mà không đánh đổi môi trường. Khi hành lang pháp lý được hoàn thiện, cơ chế giám sát được củng cố và nguyên tắc chia sẻ lợi ích được thiết kế minh bạch, rừng sẽ không chỉ tiếp tục là “lá phổi xanh” của quốc gia, mà còn có thể trở thành một “ngân hàng carbon tự nhiên”, một “ngân hàng sinh kế” cho cộng đồng, qua đó đóng góp thiết thực hơn cho mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và thực hiện hiệu quả các cam kết khí hậu trong giai đoạn tới.

Theo https://baophapluat.vn/tiem-nang-tin-chi-carbon-rung-la-chan-sinh-thai-tro-thanh-dong-luc-tang-truong-xanh.html
KINHTEPLUS.VN
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên mạng số 1579/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 10/05/2016.

Bản tin kinh tế toàn cảnh của Việt Nam và thế giới. Góc nhìn từ các chuyên gia kinh tế. Kết nối hợp tác kinh doanh doanh nghiệp vừa và nhỏ.

KẾT NỐI CHÚNG TÔI

  • fab fa-facebook
  • fab fa-google
  • fab fa-twitter
  • fab fa-youtube
  • fab fa-instagram
Image
BÀI NỔI BẬT
CHUYÊN MỤC
Liên Hệ
CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN THÔNG HVL MEDIA
Hotline: 0904114818
Tổng giám đốc: Nguyễn Phương Loan
Email: kinhteplus.vn@gmail.com
Page: https://www.facebook.com/profile.php?id=100063543881374